Top 15 # Xem Nhiều Nhất Ngày Hội Tuyển Sinh Tiếng Anh Là Gì / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Maubvietnam.com

【Havip】An Sinh Xã Hội Tiếng Anh Là Gì? / 2023

An sinh xã hội là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội khi họ không may gặp phải những “rủi ro xã hội” hoặc các “biến cố xã hội” dẫn đến ngừng hoặc giảm thu nhập. Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng. Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc, đây cũng là tư tưởng muốn hướng tới sự hưng thịnh và hạnh phúc cho mọi người và cho xã hội. Có thể thấy rõ bản chất của ASXH từ các khía cạnh sau:

An sinh xã hội (tiếng Anh: Social Security) là một khái niệm được nêu trong Điều 22 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền phát biểu rằng. Mọi người, như một thành viên của xã hội, có quyền an sinh xã hội và được quyền thực hiện, thông qua nỗ lực quốc gia và hợp tác quốc tế và phù hợp với tổ chức và các nguồn lực của mỗi quốc gia, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa không thể thiếu cho nhân phẩm của mình và sự phát triển tự do của nhân cách của mình. Nói một cách đơn giản, điều này có nghĩa là các bên tham gia ký kết thỏa thuận rằng xã hội, trong đó một người sinh sống có thể giúp họ phát triển và tận dụng tối đa tất cả những lợi thế (văn hóa, công việc, phúc lợi xã hội) được cung cấp cho họ trong quốc gia đó.

An sinh xã hội cũng có thể chỉ các chương trình hành động của chính phủ nhằm thúc đẩy phúc lợi của người dân thông qua các biện pháp hỗ trợ đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn lực đầy đủ về thực phẩm và nơi trú ẩn và tăng cường sức khỏe và phúc lợi cho người dân nói chung và các phân đoạn có khả năng dễ bị tổn thương như trẻ em, người già, người bệnh và người thất nghiệp. Các dịch vụ cung cấp an sinh xã hội thường được gọi là các dịch vụ xã hội.

Bảo hiểm xã hội, nơi người dân nhận được lợi ích hay dịch vụ trong sự công nhận những đóng góp cho một chương trình bảo hiểm. Những dịch vụ này thường bao gồm sự chu cấp lương hưu, bảo hiểm tàn tật, phúc lợi cho những người thân còn sống và bảo hiểm thất nghiệp.

Các dịch vụ được cung cấp bởi chính phủ hoặc các cơ quan được chỉ định chịu trách nhiệm chu cấp an sinh xã hội. Ở các nước khác nhau điều này có thể bao gồm chăm sóc y tế, hỗ trợ tài chính trong thời gian thất nghiệp, bệnh tật, hoặc nghỉ hưu, sức khỏe và an toàn tại nơi làm việc, các khía cạnh của công tác xã hội và thậm chí cả quan hệ ngành công nghiệp.

An sinh cơ bản bất chấp việc có tham gia vào các chương trình bảo hiểm cụ thể hay không, khi có thể hội đủ điều kiện nếu nó không phải là một vấn đề. Ví dụ hỗ trợ cho những người tị nạn mới đến về các nhu cầu cơ bản như thực phẩm, quần áo, nhà ở, giáo dục, tiền và chăm sóc y tế.

An sinh xã hội là một khái niệm khá quen thuộc, nhưng thẻ an sinh xã hội là một thuật ngữ hoàn toàn xa lạ với người dân Việt

Được đề cập tại Quyết định 634/QĐ-LĐTBXH ngày 29/5/2018 về kế hoạch thực hiện giai đoạn 2018 – 2020 đề án xây dựng CSDL quốc gia và ứng dụng CNTT vào giải quyết chính sách về an sinh xã hội (ASXH). Theo đó, thực hiện đến năm 2020 sẽ cấp thẻ an sinh xã hộ cho người dân

Theo quyết định, đến năm 2020 việc thực hiện kế hoạch cần đạt được những mục tiêu sau đây:

– Ứng dụng CNTT trong đăng ký, giải quyết chính sách, chi trả cho đối tượng thụ hưởng chính sách ASXH kịp thời, công khai và minh bạch;

– Hoàn thiện cơ sở pháp lý, triển khai cấp thẻ và số ASXH điện tử tích hợp, giúp người dân thuận lợi hưởng các chính sách ASXH;

– Xây dựng CSDL quốc gia về ASXH bao gồm những thông tin cơ bản về công dân Việt Nam là đối tượng của chính sách: Trợ giúp xã hội, giảm nghèo người có công với cách mạng, BHXH, BHYT và BHTN.

Như vậy, thẻ an sinh xã hội và số an sinh xã hội là gì là gì?

Theo pháp Luật Hoa Kỳ, Số An Sinh Xã Hội là số mà chính quyền Hoa Kỳ cấp cho người mới định cư, giúp chính quyền theo dõi thu nhập của cá nhân để tính số tiền an sinh xã hội có thể được hưởng.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các nước đặc biệt chú trọng đầu tư cho việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội hiện đại, tiên tiến trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin. Điển hình là các nước khu vực Châu Âu, Mỹ, Nhật, Úc, Ấn Độ, Nga, Nam Phi. Tính đến năm 2013, có hơn 15 quốc gia được Ngân hàng thế giới hỗ trợ về tài chính để thực hiện các chương trình này như Philippines, Indonesia, Trung Quốc, Brazil và trong đó có Việt Nam.

Một số hệ thống thông tin quản lý chương trình trợ giúp xã hội tiêu biểu nhất đang được thực hiện ở các quốc gia như chương trình bảo trợ xã hội “Dibao” của Trung Quốc, chương trình “4P” của Philippines, chương trình “Bolsa Familia” của Brazil. Tại Nam Phi, Cơ quan An sinh xã hội đang triển khai hệ thống thông tin quản lý kỹ thuật số 6 chương trình trợ cấp xã hội cho hơn 9,6 triệu người.

a. Mô hình bốn trụ cột chính sách an sinh xã hội

Mô hình này bao gồm 4 trụ cột chính sách như sau:

(1) Chính sách đảm bảo việc làm, tạo thu nhập và giảm nghèo nhằm hỗ trợ người dân chủ động phòng ngừa các rủi ro trên thị trường lao động thông qua các chính sách đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, tín dụng, tạo việc làm, thu nhập tối thiểu và giảm nghèo đơn chiều, đa chiều, bền vững.

(2) Chính sách bảo hiểm xã hội nhằm hỗ trợ người dân giảm thiểu rủi ro về sức khỏe khi ốm đau, tai nạn, tuổi già và khi bị thất nghiệp thông qua các hình thức, cơ chế bảo hiểm xã hội để bù đắp một phần thu nhập bị mất hoặc bị suy giảm.

(3) Chính sách trợ giúp xã hội nhằm hỗ trợ đột xuất và hỗ trợ thường xuyên cho người dân khắc phục các rủi ro khó lường, vượt quá khả năng kiểm soát như mất mùa, đói nghèo.

(4) Chính sách dịch vụ xã hội cơ bản – trụ cột an sinh xã hội nhằm hỗ trợ người dân tiếp cận hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu bao gồm y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin truyền thông, trợ giúp pháp lý. Trụ cột này thể hiện rất rõ yếu tố “mô hình sàn an sinh xã hội” khi xây dựng, ban hành và thực hiện các chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay (Sơ đồ 1).

Mô hình hệ thống chính sách an sinh xã hội của Việt Nam là mô hình tổng tích hợp các mô hình khác nhau để có thể bao quát nhiều chế độ bảo trợ xã hội với mức độ từ thấp đến cao đối với nhiều nhóm đối tượng hưởng thụ khác nhau trong xã hội. Mô hình này dần dần được xây dựng và phát triển trong thời kỳ quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp trước năm 1986. Đặc trưng nổi bật của hệ thống chính sách an sinh xã hội trước đổi mới là trợ giúp xã hội cho các nhóm đối tượng đặc thù của Việt Nam là những người có công, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và người nghèo, hộ gia đình, địa phương nghèo. Từ khi đổi mới đến nay các trụ cột đều đồng thời được thực hiện.

Tuy nhiên, hệ thống chính sách an sinh xã hội của Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức, rào cản trong việc bảo đảm phổ cập an sinh xã hội. Thí dụ(8): chế độ lương hưu cho người cao tuổi chỉ đảm bảo được gần hai phần ba số người lao động cao tuổi nghỉ hưu từ khu vực chính thức. Số người lao động tham gia đóng góp bảo hiểm xã hội mới chỉ đạt 1% tổng số lực lượng lao động. Chỉ một bộ phận rất nhỏ người lao động trong khu vực phi chính thức tham gia đóng góp bảo hiểm xã hội…

b. Mô hình chính sách an sinh xã hội theo vòng đời

Cách tiếp cận lý thuyết vòng đời cho thấy cuộc đời con người là một quá trình sống gồm nhiều giai đoạn mà mỗi giai đoạn đòi hỏi một số loại chính sách an sinh xã hội nhất định. Có thể phân biệt 4 giai đoạn và tương ứng là bốn nhóm chính sách an sinh xã hội theo vòng đời như sau:

(1) Tuổi trước khi đến trường bao gồm cả giai đoạn mang thai và thơ ấu. Giai đoạn này đòi hỏi chính sách an sinh xã hội như chế độ thai sản, trợ cấp trẻ em, trợ cấp tử tuất.

(2) Tuổi đến trường: giai đoạn này đòi hỏi chính sách an sinh xã hội trong giáo dục như hỗ trợ học bổng, trợ cấp trẻ em mồ côi, trợ cấp tử tuất.

(3) Tuổi thanh niên: đây là tuổi quá độ vào thị trường lao động việc làm với các rủi ro thất nghiệp, ốm đau, tai nạn. Do vậy, giai đoạn này đòi hỏi các chính sách an sinh xã hội tương ứng để trợ giúp thanh niên kịp thời.

(4) Tuổi lao động: giai đoạn này đòi hỏi hầu như tất cả các loại chính sách an sinh xã hội từ bảo đảm việc làm, tạo thu nhập, giảm nghèo đến trợ giúp xã hội đột xuất, thường xuyên, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm hưu trí và các dịch vụ xã hội cơ bản.

(5) Tuổi già: giai đoạn này đòi hỏi đảm bảo an sinh xã hội về lương hưu, trợ cấp cho người cao tuổi.

Phân tích hệ thống các chính sách an sinh xã hội theo vòng đời ở Việt Nam phát hiện thấy, “không phải tất cả các giai đoạn của vòng đời con người đều được hỗ trợ… Hệ thống an sinh xã hội bỏ sót nhóm giữa”. Đa số người dân, nhất là người lao động trong khu vực phi chính thức chưa được bảo đảm an sinh xã hội một cách đầy đủ và đa số không có triển vọng được nhận lương hưu khi họ đến tuổi nghỉ hưu.

Link bài viết: https://havip.com.vn/an-sinh-xa-hoi-tieng-anh-la-gi/

Aptis Là Gì? Bài Thi Tiếng Anh Aptis Của Hội Đồng Anh / 2023

Aptis là bài thi kiểm tra tiếng Anh hiện đại và linh hoạt dựa trên các nghiên cứu mới nhất về khảo thí tiếng Anh của Hội đồng Anh – một tổ chức uy tín với hơn 70 năm kinh nghiệm về kiểm tra tiếng Anh trên toàn cầu.

Bài thi Aptis có thể đánh giá trình độ tiếng Anh đầy đủ ở cả 4 kỹ năng ngôn ngữ – Nghe, Nói, Đọc, Viết. Bài thi cũng kết hợp với việc kiểm tra Ngữ pháp và Từ vựng. Thiết kế của bài thi Aptis đáp ứng được nhu cầu đa dạng của các tổ chức (nhà tuyển dụng, đơn vị đào tạo…) và cá nhân trên toàn thế giới.

Ra đời vào năm 2012, Aptis đã có mặt tại hơn 85 quốc gia trên thế giới. Điểm đặc biệt của bài thi Aptis là hình thức thi (format) trên máy tính với nội dung rất linh hoạt, chi phí hợp lý và cho kết quả có nhanh chóng.

Kết quả Aptis được quy đổi trực tiếp sang Khung chuẩn Ngoại ngữ Châu Âu (CEFR) và tương thích với Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc của Việt Nam. Đánh giá được đầy đủ các cấp độ từ A1, A2, B1, B2 đến C1 và C2.

Kể từ năm 2017, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã công nhận Aptis là một trong các bài thi quốc tế để xét chuẩn đầu ra cho sinh viên trường. Đặc biệt, các bạn sinh viên khi lựa chọn Aptis sẽ được trải nghiệm bài thi 4 kỹ năng trên máy tính, với hình thức và nội dung thân thiện. Không chỉ là một bài thi đơn thuần, Aptis sẽ giúp các bạn sinh viên thực sự hiểu rõ năng lực tiếng Anh của bản thân, và có sự chuẩn bị tốt nhất để sẵn sàng cho thi tuyển dụng và dễ dàng lựa chọn công việc sau khi ra trường.

Cấu trúc bài thi APTIS

Bài thi Aptis bao gồm Hợp phần Ngữ pháp và Từ vựng bắt buộc, và bốn kỹ năng ngôn ngữ: Nghe, Nói, Đọc, Viết. Thí sinh sẽ hoàn thành một bài kiểm tra ngữ pháp và từ vựng bắt buộc và các hợp phần kĩ năng tiếng Anh được lựa chọn.

Với sinh viên Đại học Bách Khoa thi Aptis để đạt chuẩn đầu ra, bài thi Aptis sẽ gồm 5 phần sau đây:

Ngữ pháp & Từ vựng: 25 câu hỏi Ngữ pháp, 25 câu hỏi Từ vựng (25 phút)

Kỹ năng Đọc: 4 bài (35 phút)

Kỹ năng Nghe: 4 bài (40 phút)

Kỹ năng Nói: 4 bài (12 phút)

Kỹ năng Viết: 4 bài (50 phút)

Bài kiểm tra bắt đầu với các câu hỏi thông thường và sau đó chuyển sang các phần thi nâng cao hơn. Mỗi phần của bài kiểm tra sẽ đánh giá các trình độ tiếng Anh từ A1-C của Khung Tham chiếu Châu âu (CEFR).

Vì sao nên thi APTIS

Thi Aptis để thực sự nâng cao kỹ năng tiếng Anh

Aptis là một bài thi toàn diện. Bài thi Aptis được thiết kế để kiểm tra cả 4 kĩ năng tiếng Anh Nghe, Nói, Đọc, Viết, ngoài khả năng Ngữ pháp và Từ vựng. Do đó, đây là một bài thi phức hợp và toàn diện so với một số bài thi phổ biến khác. Bài thi thi sẽ cho biết điểm của từng phần thi, vì vậy thí sinh và cả nhà trường hay nơi làm việc sẽ hiểu được điểm mạnh, điểm cần cải thiện trong kĩ năng sử dụng tiếng Anh của thí sinh.

Thi Aptis để mở cánh cửa nghề nghiệp tương lai

Aptis đã có mặt tại hơn 85 quốc gia trên toàn thế giới. Nhiều doanh nghiệp và tổ chức trên thế giới cũng như Việt Nam đã công nhận Aptis và đã sử dụng Aptis như một bài kiểm tra năng lực ngoại ngữ đầu vào hoặc tiêu chí để tuyển chọn, đánh giá nhân viên.

Nhiều doanh nghiệp sử dụng bài thi Aptis để đánh giá năng lực tiếng Anh của nhân viên Hình thức thi thân thiện với thí sinh

Bài thi Aptis kiểm tra 4 kỹ năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh thông qua 4 hợp phần thi Nghe, Nói, Đọc, Viết và bài thi Ngữ Pháp và Từ Vựng được tiến hành trên máy tính vô cùng tiện lợi, dễ dàng sử dụng.

Bài thi Nói được ghi âm trực tiếp qua máy tính, hạn chế sự căng thẳng, sự ngại ngùng và bối rối của thí sinh khi phải đối thoại trực tiếp với giám khảo chấm thi.

Hình thức câu hỏi của bài thi Aptis rất đa dạng, gồm hình thức trắc nghiệm, ghép từ, tìm từ trái nghĩa, đồng nghĩa, điền từ vào chỗ trống, tìm tiêu đề cho đoạn văn,… nên sẽ tránh sự nhàm chán, giảm mệt mỏi trong suốt quá trình diễn ra bài thi.

Kết quả thi APTIS

Sinh viên Đại học Bách Khoa thi Aptis để đạt chuẩn đầu ra cần đạt mức B1.

Kết quả thi Aptis sẽ có trong vòng 5-7 ngày làm việc (trừ T7, CN, ngày lễ).

Phần Ngữ pháp và Từ vựng: kết quả dạng điểm số từ 1-50

Các kỹ năng Nghe, Nói, Đọc, Viết: kết quả dạng điểm số từ 1-50 và quy đổi sang mức tương ứng của Khung ngoại ngữ Chung Châu Âu từ A1 đến C.

Với sinh viên Đại học Bách Khoa thi Aptis 4 kỹ năng: Bài thi Aptis sẽ có điểm tổng số và mức mức tương ứng của Khung ngoại ngữ Chung Châu Âu từ A1 đến C.

Đăng ký thi Aptis

Sinh viên ĐH Bách Khoa HN hoặc các thí sinh có nhu cầu có thể đăng ký trực tiếp tại tòa nhà C3B, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.

Thi thử Aptis ngay!

Hướng dẫn thi Aptis: https://www.britishcouncil.vn/thi/aptis/huong-dan-thi

Hướng dẫn cho thí sinh trước ngày thi: https://www.britishcouncil.org/sites/default/files/aptis-candidate-guide-web.pdf

Link bài thi thử:

Trung tâm Ngôn ngữ và hỗ trợ trao đổi học thuật – ĐH Bách Khoa Hà Nội là địa điểm khảo thí và là địa điểm luyện thi uy tín với sinh viên và người đi làm. Các lớp luyện thi Aptis khai giảng mỗi tuần với nội dung bài bản và sáng tạo, đội ngũ giáo viên dày dặn kinh nghiệm, cùng ưu đãi lệ phí thi, các hoạt động luyện tiếng Anh miễn phí cho học viên của CLA.

Comments

An Sinh Xã Hội Là Gì? / 2023

An sinh xã hội là gì? Khái niệm

Để hiểu rõ khái niệm an sinh xã hội (ASXH), cần nhìn lại lịch sử phát triển của nhân loại.

Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở… Để thoả mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết. Của cải xã hội càng nhiều, mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, nghĩa là việc thoả mãn nhu cầu phụ thuộc vào khả năng lao động của con người. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời, không phải khi nào con người cũng có thể lao động tạo ra được thu nhập. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất hạnh, rủi ro xảy ra làm cho con người bị giảm, mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác, chẳng hạn, bị bất ngờ ốm đau, tai nạn, mất người nuôi dưỡng, tuổi già, tử vong… Hơn nữa, cuộc sống của con người trên trái đất phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và môi trường sống. Những điều kiện thiên nhiên và xã hội không thuận lợi đã làm cho một bộ phận dân cư cần phải có sự giúp đỡ nhất định để bảo đảm cuộc sống bình thường. Do đó, để tồn tại và phát triển, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục khó khăn.

Từ xa xưa, trước những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, con người đã tự khắc phục, như câu phương ngôn “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”; đồng thời, còn được sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng. Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau. Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau. Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống ASXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển. Quá trình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại. Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già…, đã trở thành mối đe doạ đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương. Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn…); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ.

Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều Bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật. Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp. Lúc đầu chỉ có giới thợ tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật. Đến cuối những năm 1880, ASXH (lúc này là BHXH) đã mở ra hướng mới. Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế ba bên). Tính chất đoàn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: mọi người, không phân biệt già – trẻ, nam – nữ, người khoẻ – người yếu mà tất cả đều phải tham gia đóng góp.

Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ASXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu á, châu Phi và vùng Caribê. Ngoài BHXH, các hình thức truyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội cũng tiếp tục phát triển để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn như những người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người goá bụa và những người không may gặp rủi ro vì thiên tai, hoả hoạn… Các dịch vụ xã hội như dịch vụ y tế, dự phòng tai nạn, dự phòng y tế tái thích ứng; dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, bảo vệ trẻ em… được từng bước mở rộng ở các nước theo những điều kiện tổ chức, chính trị, kinh tế – xã hội, tài chính và quản lý khác nhau. Hệ thống ASXH được hình thành và phát triển rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau ở từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử, trong đó BHXH là trụ cột chính. Đạo luật đầu tiên về ASXH (Social Security) trên thế giới là Đạo luật năm 1935 ở Mỹ.

Đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp. Thuật ngữ ASXH được chính thức sử dụng. Đến năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chính thức dùng thuật ngữ này trong các công ước quốc tế. ASXH đã được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người. Nội dung của ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948. Trong bản Tuyên ngôn có viết: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng ASXH. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người…”. Ngày 25/6/1952, Hội nghị toàn thể của ILO đã thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước về ASXH (tiêu chuẩn tối thiểu) trên cơ sở tập hợp các chế độ về ASXH đã có trên toàn thế giới thành 9 bộ phận.

Tuy nhiên, cho đến nay, do tính chất phức tạp và đa dạng của ASXH nên vẫn còn nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề này. Khái niệm về ASXH cũng còn khá khác biệt giữa các quốc gia.

Theo tiếng Anh, ASXH thường được gọi là Social Security và khi dịch ra tiếng Việt, ngoài ASXH thì thuật ngữ này còn được dịch là bảo đảm xã hội, bảo trợ xã hội, an ninh xã hội, an toàn xã hội… với những ý nghĩa không hoàn toàn tương đồng nhau. Theo nghĩa chung nhất, Social Security là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con người được sống trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được học tập, được có việc làm, có nhà ở; được đảm bảo thu nhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già…Theo nghĩa này thì tầm ” bao” của Social Security rất lớn và vì vậy khi dịch sang tiếng Việt có nhiều nghĩa như trên cũng là điều dễ hiểu. Theo nghĩa hẹp, Social Security được hiểu là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cả, cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người nghèo đói và những người bị thiên tai, dịch hoạ…Theo chúng tôi, ASXH mà chúng ta đang nói tới, nên được hiểu theo nghĩa hẹp của khái niệm Social Security này. Bên cạnh khái niệm này, từ những cách tiếp cận khác nhau, một số nhà khoa học đưa ra những khái niệm rộng- hẹp khác nhau về ASXH, chẳng hạn:

– Theo H. Beveridge, nhà kinh tế học và xã hội học người Anh (1879-1963), ASXH là sự bảo đảm về việc làm khi người ta còn sức làm việc và bảo đảm một lợi tức khi người ta không còn sức làm việc nữa.

– Trong Đạo luật về ASXH của Mỹ, ASXH được hiểu khái quát hơn, đó là sự bảo đảm của xã hội, nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị của cá nhân, đồng thời tạo lập cho con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phát triển tài năng đến tột độ.

Để dễ thống nhất, theo chúng tôi nên dùng khái niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đang sử dụng: ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.

Như vậy, về mặt bản chất, ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội. Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng. Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc.

Các bộ phận của ASXH

Về mặt cấu trúc, trên giác độ khái quát nhất, ASXH gồm những bộ phận cơ bản là:

– Bảo hiểm xã hội.

– Trợ giúp xã hội.

– Trợ cấp gia đình.

– Các quỹ tiết kiệm xã hội.

Nội dung chi tiết của những bộ phận này của ASXH sẽ được chúng tôi giới thiệu trong các kỳ tới, trong bài này chỉ nêu rất khái quát.

Bảo hiểm xã hội

Đây là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ASXH. Có thể nói, không có BHXH thì không thể có một nền ASXH vững mạnh. BHXH ra đời và phát triển từ khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện ở châu Âu. BHXH nhằm bảo đảm cuộc sống cho những người công nhân công nghiệp và gia đình họ trước những rủi ro xã hội như ốm đau, tai nạn, mất việc làm…, làm giảm hoặc mất thu nhập. Tuy nhiên, cũng do tính lịch sử và phức tạp của vấn đề, khái niệm BHXH đến nay cũng chưa được hiểu hoàn toàn thống nhất và gần đây có xu hướng hòa nhập giữa BHXH với ASXH. Khi đề cập đến vấn đề chung nhất, người ta dùng khái niệm SOCIAL SECURITY và vẫn dịch là BHXH, nhưng khi đi vào cụ thể từng chế độ thì BHXH được hiểu theo nghĩa của từ SOCIAL INSURANCE. Tuy nhiên, sự hòa nhập này không có nghĩa là hai thuật ngữ này là một. Theo nghĩa hẹp, cụ thể, có thể hiểu BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần bảo đảm an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

Trợ giúp xã hội

Đó là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình.

Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc bằng các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng.

Trợ giúp xã hội có đặc điểm:

– Trợ cấp được chi trả khi các điều kiện theo quy định được đáp ứng.

– Thẩm tra tài sản (thu nhập, tài sản và vốn) thường dùng được xác định mức hưởng trợ cấp.

Trợ cấp gia đình

-Trong hệ thống ASXH của nhiều nước quy định chế độ BHXH dựa trên những nhu cầu đặc biệt và có những chi phí bổ sung gắn với gia đình.

– Những phương pháp áp dụng bao gồm việc sử dụng cơ cấu thuế để gắn với trách nhiệm gia đình. Người không có con phải nộp thuế cao hơn những người có con; người ít con phải nộp thuế nhiều hơn người đông con…

Các quỹ tiết kiệm xã hội

Ngoài BHXH, trong hệ thống ASXH của nhiều nước có tổ chức các quỹ tiết kiệm dựa trên đóng góp cá nhân.

– Những đóng góp được tích tụ dùng để chi trả cho các thành viên khi sự cố xảy ra. Đóng góp và khoản sinh lời được chi trả một lần theo những quy định.

– Từng cá nhân nhận khoản đóng góp của mình và khoản sinh lời, không chia sẻ rủi ro cho người khác…

– Trợ cấp cơ bản cho mọi cư dân, hoặc tất cả những người đã từng làm việc trong một khoảng thời gian nhất định.

Trách nhiệm từ chủ sử dụng lao động

– Thường chỉ là hệ thống tai nạn nghề nghiệp hoặc hệ thống đền bù cho người lao động.

– Trách nhiệm của chủ sử dụng lao động đối với chăm sóc y tế và bồi thường tuỳ theo mức độ tai nạn và bệnh nghề nghiệp.

– Có thể bao gồm một phần để chi trả chế độ cho người lao động trong thời gian ngừng việc (nằm trong chế độ BHXH).

Dịch vụ xã hội khác

– Quy định thêm về ASXH dưới các hình thức khác.

– Khi không có hệ thống ASXH.

– Có thể được thực hiện bởi các tổ chức tự nguyện hoặc phi Chính phủ.

– Bao gồm các dịch vụ đối với người già, người tàn tật, trẻ em, phục hồi chức năng cho người bị tai nạn và tàn tật, các hoạt động phòng chống trong y tế (ví dụ tiêm phòng), kế hoạch hóa gia đình.

TS. Mạc Tiến Anh (Theo tapchibaohiemxahoi.org)

#1 Chuyển Nhà Tiếng Anh Là Gì ? / 2023

Chuyển nhà tiếng anh là gì? Các từ ngữ dùng trong chuyển nhà.

Đối với đa số người dân Việt Nam thì giao tiếp bằng tiếng ngoại ngữ với người nước ngoài sẽ rất khó khăn vì vốn từ của họ cũng rất ít hoặc không có một chút hiểu biết gì về tiếng anh. Thật đáng buồn vì đây là một thực trang không hề ít gặp hiện nay.

Move new house : chuyển nhà mới.

migrate : di cư

movement : sự di chuyển

Travel : đi du lịch, du hành

immigration: nhập cư

Departure: Điểm khởi hành

Emigration: sự di trú

Transmigration: sự di cư

to immigrate: sự nhập cư

Flit: di chuyển nhà

Resettle: tái định cư

Resettlement: sự tái định cư

Gải đáp câu hỏi : Chuyển nhà tiếng anh là gì ?

Đối với người nước ngoài thì tập tính sinh hoạt lẫn suy nghĩ đều có phần khác người dân Việt Nam, họ thích tự mình làm mọi chuyện. Chính vì thế việc chuyển nhà họ sẽ tự làm việc này một mình hoặc với một vài người bạn, do họ là người nước ngoài nên việc di chuyển và phương tiện đi lại cũng rất khó khăn, kéo theo đó họ cũng phải làm những thủ tục rất vất vả và rắc rối mỗi khi chuyển đến ngôi nhà mới.

Việc thu dọn đồ đạc trong nhà và gói, đóng hộp cũng rất phiền toái mất nhiều thời gian, không những thế những đồ vật cồng kềnh, khó khăn trong việc vận chuyển sẽ mất rất nhiều công sức. Vì vậy nếu bạn không biết những câu chuyển nhà trong tiếng anh thì rất khó để giao tiếp với những người nước ngoài.

Vậy bạn vẫn trưa rõ chuyển nhà mới với người nước ngoài được nói ra sao thì sau đây tôi xin được giải đáp cho bạn kỹ hơn về câu “Chuyển nhà tiếng anh là gì ?” . chuyển nhà hay còn được gọi là chuyển vào nhà mới, thì người nước ngoài thường gọi nó là ” Move new house ”

Các quy trình chuyển nhà cho người nước ngoài.

Khi có nhu cầu chuyển nhà thì khách hàng có thể gọi đến cho Thành Hưng với hotline: 0342.73.73.73 – 0915 388 666, với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp với trình độ giao tiếp ngoại ngữ rất tốt có thể tư vấn và tiếp nhận những thông tin cần thiết như: tên, địa chỉ nhà hiện tại và nhà cần chuyển đến, kèm theo đó là giờ hẹn để nhân viên đến thực hiện khảo sát các đồ vật và đưa ra tư vấn cho khách hàng.

Khách hàng và nhân viên sẽ có được thời gian lịch hẹn cụ thể để nhân viên đến tại nhà để khảo sát khối lượng đồ đạc trong nhà, quãng được di chuyển và số lượng công việc đề ra để đưa ra chi phí phù hợp cho khách hàng. Sau đó 2 bên sẽ kí kết hợp đồng với nhau để thực hiện chuyển nhà.

Sau khi đã hoàn thành kí kết hợp đồng hai bên thì nhân viên khảo sát sẽ có nhiệm vụ lên lịch hẹn với khách hàng một thời gian hợp lý để tiến hành việc chuyển nhà. Khi đến đúng giờ hẹn thì nhân viên của chúng tôi sẽ đến và thực hiện gói, đóng hộp hay tháo rỡ các đồ dùng trong gia đình, tùy vào giá trị các đồ vật khác nhau thì chúng tôi sẽ xử lý sao cho mọi vật dụng trong khi chuyển sẽ được đảm bảo an toàn.